(kinhtevadubao) Trừ một số quy hoạch sản phẩm thuộc lĩnh vực năng lượng thực hiện tương đối nghiêm ngặt theo quy hoạch, còn lại đa số các quy hoạch sản phẩm theo hướng mở, nên nhiều quy hoạch thường bị phá vỡ sau một thời gian ngắn thực hiện.

 Công tác quy hoạch phát triển sản phẩm chủ yếu ở nước ta trong thời gian qua đã dần đi vào nề nếp, từng bước được thể chế hoá. Chất lượng các dự án quy hoạch đã được nâng lên một bước, theo hướng phát triển đồng bộ, bền vững. Tuy nhiên, công tác quy hoạch sản phẩm chủ yếu vẫn đang tồn tại nhiều bất cập, hạn chế.

Công tác lập quy hoạch còn nhiều hạn chế

Hiện nay, hầu hết các sản phẩm chủ yếu như: điện, than, dầu khí, thép, hoá chất, phân bón, xi măng, vật liệu xây dựng, dệt may… đã được Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng chủ trì lập và phê duyệt, hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP, ngày 11/01/008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92.

Thực tế cho thấy, các báo cáo quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ yếu đã làm cơ sở quan trọng trong định hướng, lập kế hoạch phát triển 5 năm, hàng năm và chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, cũng như của các bộ, ngành và địa phương. Song, công tác lập quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ yếu ở nước ta thời gian qua còn bộc lộ nhiều yếu kém và bất cập, như:

(i) Nhiều quy hoạch có chất lượng thấp, chưa sát với thực tế vận hành của nền kinh tế, nên chưa thực hiện được bao lâu đã phải điều chỉnh.

(ii) Thiếu một tầm nhìn chiến lược trong quy hoạch phát triển, thiếu sự gắn kết giữa quy hoạch phát triển sản phẩm với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của vùng và địa phương. Chất lượng dự báo chưa cao, độ tin cậy thấp.

(iii) Hiện tượng “quy hoạch treo” còn tồn tại ở các ngành, các địa phương.

Những yếu kém này xuất phát từ những nguyên nhân như:

- Quan niệm về quy hoạch trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa rõ ràng cả về lý luận và thực tiễn.

- Phương pháp lập quy hoạch chưa thống nhất giữa các bộ, ngành và đơn vị tư vấn, nhìn chung còn lạc hậu.

- Chưa nhất quán quan điểm phát triển công nghiệp và vấn đề môi trường,  xã hội giữa các bộ, ngành; giữa Trung ương và địa phương.

- Khó khăn lớn nhất trong khâu lập quy hoạch là thiếu cơ sở dữ liệu chi tiết với độ tin cậy cao. Mặc dù Tổng cục Thống kê có niên giám thống kê hàng năm và các số liệu điều tra, nhưng để phục vụ cho công tác nghiên cứu chi tiết về sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm của ngành vẫn thiếu và khó thu thập thông tin, nhất là khi số liệu không thống nhất giữa Trung ương và địa phương, giữa các nguồn khác nhau đang là chuyện thường nhật.

- Kinh phí xây dựng quy hoạch theo quy định của Nhà nước vừa thấp, lại vừa quá cứng nhắc về cơ cấu các khoản chi, gây khó khăn cho các chủ đầu tư và đơn vị tư vấn. Bởi, mỗi loại quy hoạch, mỗi ngành đều có đặc thù riêng, nên cơ cấu chi phí không thể giống nhau.

- Thời gian thẩm định và phê duyệt quy hoạch thường kéo dài, nên mất tính thời sự.

Việc thực hiện quy hoạch gặp nhiều khó khăn

Hiện nay, trừ một số quy hoạch sản phẩm thuộc lĩnh vực năng lượng, như: điện, than, dầu khí thực hiện tương đối nghiêm ngặt theo quy hoạch, còn lại đa số các quy hoạch sản phẩm theo hướng mở, nên nhiều quy hoạch thường bị phá vỡ sau một thời gian ngắn thực hiện. Nguyên nhân của tình trạng này là do:

(1) Do bản chất của quy hoạch sản phẩm trong nền kinh tế thị trường chỉ mang tính định hướng, nên các dự án đầu tư đưa ra chỉ để làm cơ sở kêu gọi đầu tư, còn quy mô đầu tư và địa điểm đầu tư do nhà đầu tư lựa chọn, nên có sự khác biệt giữa quy hoạch và thực tế là khách quan.

(2) Mục tiêu của quy hoạch phát triển sản phẩm trong phạm vi toàn quốc nhiều khi không trùng với mục tiêu phát triển của các địa phương, nhất là trong điều kiện các địa phương phải phát triển công nghiệp theo mục tiêu đại hội Đảng bộ đã quyết định. Các cơ quan chức năng của địa phương bằng mọi cách thu hút đầu tư càng nhiều càng tốt, không cần quan tâm tới sự phát triển của vùng và cả nước dẫn tới đầu tư chồng chéo, dư thừa công suất, không phát huy được lợi thế của từng vùng, từng địa phương.

(3) Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý thực hiện quy hoạch còn chồng chéo và thiếu tính thống nhất. Mặt khác, các ban quản lý khu công nghiệp lại được giao quá nhiều quyền, song việc cấp phép đầu tư thực hiện theo Luật Đầu tư lại không đúng với các quy hoạch chuyên ngành (ví dụ như cấp phép quá nhiều dự án sản xuất thép ngoài quy hoạch làm dư thừa công suất và nhiều dự án có sông suất quá nhỏ với công nghệ, thiết bị lạc hậu trái với quy định trong quy hoạch gây ô nhiễm môi trường…).

(4) Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch của Trung ương còn buông lỏng, hình thức, kém hiệu quả.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quy hoạch

Về công tác lập quy hoạch:

Một là, cần sớm ban hành Luật Quy hoạch để có cơ sở pháp lý cao hơn, thống nhất trong công tác lập quy hoạch sản phẩm chủ yếu.

Hai là, sửa đổi Thông tư số 01/2012/TT-BKHĐT, ngày 9/2/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực và các sản phẩm chủ yếu theo hướng mềm hoá cơ cấu chi phí. Giao cho các cơ quan chủ quản phê duyệt đề cương, dự toán cụ thể theo đặc thù của từng loại quy hoạch, tạo điều kiện cho đơn vị lập quy hoạch thực hiện đúng các quy định về chế độ tài chính. Kinh phí cho lập Đánh giá môi trường chiến lược (DMC) cần cấp cùng với chi phí lập quy hoạch, tránh tình trạng phổ biến hiện nay là lập quy hoạch xong lại chờ lập DMC rồi mới trình phê duyệt.

Ba là, cần làm rõ Nhà nước quản lý những gì để theo định hướng xã hội chủ nghĩa? Ngành nào, sản phẩm nào cần lập quy hoạch? Quy hoạch nào là quy hoạch cứng và quy hoạch nào là quy hoạch “mềm”? Tương ứng với mỗi loại quy hoạch là các yêu cầu về nội dung cụ thể cần phải đạt được. Như vậy, cũng cần phải sửa lại Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP, ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92.

       Bốn là, các bộ, ngành cũng cần rà soát sửa đổi các quy định cụ thể về trình tự, nội dung lập và phê duyệt quy hoạch sản phẩm chủ yếu cho phù hợp với luật, nghị định mới về quy hoạch.

       Năm là, đổi mới công tác giao nhiệm vụ lập quy hoạch. Bộ Kế hoạch và Đầu tư nên giao nhiệm vụ vào tháng 12 hàng năm, thay vì tháng 2, hoặc tháng 3 mới giao nhiệm vụ như hiện nay để đơn vị tư vấn có nhiều thời gian hơn thực hiện triển khai. Việc xin ý kiến các bộ, ngành và nhất là các địa phương mất nhiều thời gian, đôi khi mất 2-3 tháng, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.

       Sáu là, nâng cao chất lượng cán bộ, đơn vị tư vấn lập quy hoạch. Cần tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ lập quy hoạch nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, áp dụng các phương pháp lập quy hoạch khoa học, tiến tới cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn lập quy hoạch. Đơn vị tư vấn phải có đủ năng lực tối thiểu mới được giao nhiệm vụ lập quy hoạch.

       Bảy là, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tất cả các loại quy hoạch và cho truy cập miễn phí, để khi lập quy hoạch sản phẩm có thể tham khảo các quy hoạch khác cho phù hợp, đồng bộ đảm bảo tính khả thi.

Về thực hiện quy hoạch:

Thứ nhất, cần phổ biến rộng rãi và công khai quy hoạch hơn nữa để tất cả nọi người quan tâm đều có thể tiếp cận được thông tin, bằng cách đưa toàn bộ quy hoạch công khai lên mạng.

Thứ hai, cần quy định rõ ràng tính pháp lý của từng loại quy hoạch để có sơ sở kiểm tra, tổ chức thực hiện.

Thứ ba, tăng cường phối hợp công tác giữa các sở, bộ, ngành chức năng trong việc cấp giấy chứng nhận đầu tư để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý ngành và địa phương.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quy hoạch cho cán bộ quản lý tại các cơ quan chức năng của các địa phương để có nhận thức đúng và phối hợp hiệu quả trong quản lý đầu tư phát triển tại địa phương.

ThS. Phạm Văn Liêm